Qúa tŕnh đầu tư cơ sở hạ tầng

Quá tŕnh phát triển của ngành điện TP.Hồ Chí Minh được phân thành 4 giai đoạn như sau:

Giai đoạn 1: Trước năm 1975

Lưới điện miền Nam trước đây được phát triển chủ yếu ở khu vực đô thị, nhiều nhà máy, đường dây đă được xây dựng, hoàn chỉnh, đặc biệt là Sài G̣n và một số thành phố lớn khác. Trung tâm điện lực lớn nhất lúc ấy là Nhà máy điện Chợ Quán do Pháp xây dựng năm 1923, chạy than và chuyển sang chạy dầu năm 1972.

Năm 1960, sản lượng điện toàn miền Nam đạt 286,7 triệu kWh, th́ riêng vùng Sài G̣n - Chợ Lớn, Biên Hoà đă tiêu thụ hết 220 triệu kWh. Nguồn thủy điện Đa Nhim công suất 160 MW cung cấp cho Sài G̣n luôn trong t́nh trạng quá tải hoặc gián đoạn trong quá tŕnh truyền tải. Để đảm bảo an toàn cho lưới điện Sài G̣n và các vùng phụ cận, các máy phát điện diesel đă được đầu tư thêm tại các nhà máy điện cũ, các căn cứ quân sự và các tỉnh lân cận, riêng nhà máy điện Thủ Đức đă lắp đặt thêm một máy phát điện diesel công suất 18MW.

Trong mười năm, từ 1964 đến 1974, tuy tổng công suất lắp đặt các nguồn thủy điện, nhiệt điện diesel, tua bin khí ở miền Nam là 801,3 MW nhưng phân bố không đều trên toàn miền nam, nhiều thiết bị ở các nhà máy điện sau một thời gian dài khai thác phải đại tu, sửa chữa lớn hoặc bị hư hại (như thủy điện Đa Nhim bị rỉ sét đường ống dẫn nước) nên công suất thực tế khi tiếp quản vào năm 1975 toàn miền Nam chỉ c̣n 481 MW.

Giai đoạn 2 (từ năm 1976 -1987): duy tŕ lưới điện, phục vụ nhu cầu SXKD và thắp sáng sinh hoạt của Thành phố.

Ngày 7 tháng 8 năm 1976, Sở Quản lư và Phân phối điện thành phố Hồ Chí Minh được thành lập, có 4 chi nhánh với nhiệm vụ khá nặng nề là phân phối và kinh doanh điện năng trong điều kiện mạng lưới điện không đồng bộ, lại đang xuống cấp với khối lượng vận hành gồm 632 km đường dây trung thế 15 KV; 415 km cáp ngầm 15 KV và 6,6 KV; 950 km lưới điện hạ thế và 1824 trạm biến áp phân phối với tổng dung lượng 639 MVA. Đặc biệt là tổn thất điện năng ở tỷ lệ trên 21% và phần lớn khu vực ngoại thành của Thành phố không có lưới điện.

Những năm đầu sau giải phóng là giai đoạn cực kỳ khó khăn chung của cả nước, nguồn điện không được xây dựng thêm, lưới điện phát triển trên cơ sở duy tŕ cái cũ, chắp vá cái mới, lại phải kéo dài lưới điện trung thế ra ngoại thành phục vụ nông thôn và phát triển kinh tế ở ngoại thành. Trong giai đoạn này, sản lượng điện tiêu thụ chỉ tăng b́nh quân 3%/năm, có những năm như 1979, 1986 sản lượng c̣n thấp hơn so với năm trước. Do thiếu nguồn, việc cắt giảm điện luân phiên trở thành phổ biến qua nhiều năm và t́nh trạng sụt áp lên đến 20-30%, không đảm bảo chất lượng điện năng và điều kiện an toàn cần thiết cho người sử dụng điện.

Chính vào thời điểm khó khăn này, Sở Điện Lực đă phát động nhiều phong trào thi đua, động viên CBCNV khắc phục mọi khó khăn, quyết tâm đảm bảo công tác quản lư vận hành và cung cấp điện tốt nhất trong điều kiện cho phép. Hàng ngàn sáng kiến cải tiến kỹ thuật đă được áp dụng trong việc bảo tŕ lưới điện, phục hồi cho hàng trăm máy biến thế được hoạt động trở lại. Qua các phong trào thi đua đó, nhiều nhân tố tích cực, điển h́nh tiên tiến đă xuất hiện, h́nh thành trong CBCNV, những thợ điện tương lai của thành phố một phong cách làm việc mới, làm tiền đề cho những bước đi trên con đường xây dựng và phát triển của Công ty sau này.

Cũng từ năm 1978, việc phát triển lưới điện quốc gia ra khu vực ngoại thành đă được triển khai nhằm phục vụ các trạm bơm tưới tiêu cho các huyện ngoại thành và một phần phục vụ thắp sáng sinh hoạt góp phần phục vụ phát triển kinh tế xă hội nông thôn.

Giai đoạn 3 (từ năm 1988 -1995): Nâng cấp và phát triển lưới điện phục vụ đổi mới kinh tế xă hội của Thành phố.

Năm 1987, trước t́nh trạng lưới điện có nguy cơ không đủ khả năng đón được thủy điện Trị An, lănh đạo thành phố và ngành Điện đă thống nhất chủ trương khẩn cấp triển khai công tŕnh cải tạo lưới điện thành phố Hồ Chí Minh, dù rằng chưa có nguồn hỗ trợ vật tư thiết bị từ ngoài nước. Bằng nhiều nguồn vốn huy động đă được toàn thể cán bộ công nhân viên của Sở Điện Lực thành phố ra sức thực hiện trong thời gian ngắn nhất chương tŕnh cải tạo lưới điện với chủ đề "Phục hồi đẳng cấp và phát triển lưới điện để đón nguồn điện Trị An".

Trong 3 năm, từ 1988 đến 1990, Sở Điện Lực thành phố đă thực hiện cải tạo và xây dựng mới 338 km đường dây trung thế, 381 km đường dây hạ thế, 1663 trạm biến thế với tổng dung lượng máy biến áp tăng thêm 238 MVA,... đặc biệt là việc đưa điện lưới quốc gia về huyện Cần Giờ và điện khí hoá thí điểm xă Trung Lập Thượng, huyện Củ Chi, tạo tiền đề cho chương tŕnh điện khí hoá nông thôn trong giai đoạn tiếp theo.

Tuy nhiên, do sự phát triển nhanh chóng của kinh tế thành phố, nguồn điện Trị An chỉ làm giảm căng thẳng do thiếu điện trong năm 1989, các năm 1990, 1991 lại bị căng thẳng cao độ vào 6 tháng mùa khô và tái diễn t́nh trạng tiết giảm 3-4 ngày trong tuần. Để khắc phục t́nh trạng này, ngành Điện đă xây dựng Nhà máy tuabin khí hỗn hợp tại Bà Rịa, Nhà máy Thủy  điện Thác Mơ, Thủy điện Vĩnh Sơn với tổng công suất nguồn tăng thêm cho khu vực miền Nam là 316 MW. Đồng thời, đường dây siêu cao áp 500KV Bắc Nam cũng đă được xây dựng trong một thời gian ngắn kỷ lục, nhằm đưa lượng điện thừa từ phía Bắc vào miền Nam.

Với sự nỗ lực xây dựng như trên, kết quả là:

- Nâng cao khả năng của lưới điện, tiếp nhận được điện từ đường dây 500 KV đáp ứng phụ tải gia tăng 20 - 22%/năm.

- Không c̣n t́nh trạng cắt điện luân phiên do quá tải cục bộ. Sự cố năm sau ít hơn năm trước.

- Tổn thất điện năng giảm, mặc dù sản lượng điện tăng.

- Thực hiện được chương tŕnh điện khí hoá nông thôn cho 18 xă, tạo tiền đề cho chương tŕnh điện khí hoá tất cả các xă ngoại thành trước năm 2000.

- Tăng khối lượng lưới điện quản lư vận hành lên 144 tuyến dây trung thế với tổng chiều dài 2250 km, hơn 2100 km đường dây hạ thế, 7.600 trạm biến thế với tổng dung lượng trên 1.650 MVA, cung cấp điện cho hơn 500.000 khách hàng.

Giai đoạn 4 (từ năm 1996 đến nay): Thời kỳ đầu tư chiều sâu, nâng cao tŕnh độ công nghệ và quản lư, đáp ứng đủ điện cho nhu cầu phát triển kinh tế-xă hội của thành phố.

Điện năng được xác định là một ngành kinh tế mũi nhọn, có vai tṛ quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Để thực hiện nhiệm vụ quan trọng này, cán bộ công nhân viên Công ty Điện Lực Thành phố qua các thế hệ luôn đoàn kết phấn đấu và luôn hoàn thành vượt mức nhiệm vụ được giao, đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu sử dụng điện ngày càng tăng của Thành phố. Năm 1998, sản lượng điện thương phẩm b́nh quân đầu người đạt trên 800 kWh/người/năm, năm 2000 là trên 1000 kWh/người/năm, năm 2003 là gần 1350 kWh/người/năm (tăng gấp 7 lần so với năm 1976). Nếu như năm 1995, điện thương phẩm chỉ đạt 2.815 triệu kWh th́ năm 2004 là 9 tỷ kWh. Sản lượng điện ngày cực đại là 31.54 triệu KWh, tương ứng với công suất cực đại toàn hệ thống là 1.655,7 MW. B́nh quân mỗi năm, số khách hàng tăng khoảng 10%, và điện thương phẩm tăng 14%. Công tác giảm tổn thất điện năng là mặt trận xuyên suốt, qua các thời kỳ, là sự phấn đấu liên tục của mỗi cán bộ công nhân viên từ quản lư kỹ thuật đến kinh doanh, nên tỷ lệ tổn thất điện năng liên tục giảm từ trên 20% năm 1986, xuống dần và nay chỉ c̣n dưới 9%. Khả năng phân phối của lưới điện tăng từ 250 MW năm 1976 đến 650 MW năm 1995 và hiện nay là 1700 MW. Công ty đă thực hiện hoàn tất chương tŕnh điện khí hoá vào năm 1998, là đơn vị đầu tiên trong cả nước hoàn thành nhiệm vụ quan trọng này. Kể từ năm 1996, Công ty tiếp nhận quản lư thêm lưới điện đến 110 KV, lưới điện Thành phố từng bước được cải tạo, theo những tiêu chuẩn kỹ thuật tiên tiến, ngang tầm khu vực. Do làm tốt công tác quản lư điện năng nên giá bán điện b́nh quân đă vượt 300 đồng/kWh so với kế hoạch được giao, mang lại lợi ích cho nghành điện vài ngh́n tỷ đồng mỗi năm.